Báo cáo “Hướng tới một hệ thống nước có tính thích ứng, sạch và an toàn” của Ngân hàng Thế giới vừa qua đã chỉ ra việc sử dụng nước ở Việt Nam còn kém hiệu quả, lãng phí. Theo đó, tổng lượng nước sử dụng cho nông nghiệp chiếm hơn 80%, nhưng mỗi đơn vị mét khối nước chỉ tạo ra 2,37 USD GDP, thấp hơn cả mức trung bình của Lào là 2,53 USD, trong khi mức trung bình toàn cầu là 19,42 USD.
Khi hiệu quả sử dụng nước thấp thì lượng nước dùng cho sản xuất sẽ phải nhiều hơn và chi phí sản xuất sẽ cao hơn. Vì thế, việc chưa chú trọng tới nâng cao hiệu quả sử dụng nước ở các cơ sở sản xuất nói chung, đặc biệt là ở các cơ sở sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy - hải sản nói riêng sẽ khiến giá thành sản phẩm làm ra cao hơn. Điều đó ảnh hưởng trực tiếp tới tính cạnh tranh về hàng hóa và lợi nhuận của cơ sở sản xuất, người dân.

Công trình thuỷ điện A Lưới (Thừa Thiên-Huế)
Bên cạnh đó, việc sử dụng nước lãng phí, kém hiệu quả còn góp phần khiến an ninh nguồn nước của nước ta bị thách thức nghiêm trọng hơn. Sự thiếu nước trầm trọng vào mùa khô ở Tây Nguyên một phần rất lớn là do khai thác nước quá mức, sử dụng nước lãng phí và thiếu hiệu quả trong trồng trọt.
Mặt khác, mặc dù Luật Tài nguyên nước năm 2012 đã có quy định về điều hòa, phân phối tài nguyên nước nhưng còn chung chung, mang tính nguyên tắc và không quy định các hành động cụ thể, chưa phân định rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của từng bộ, ngành, địa phương, tổ chức cá nhân khi xảy ra hạn hán, thiếu nước, đặc biệt là còn có sự giao thoa trong công tác điều hòa, phân bổ nguồn nước giữa Bộ TN&MT và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong Luật Tài nguyên nước và Luật Thủy lợi.
Theo đó, khi xảy ra hạn hán thiếu nước như năm 2015 - 2016 và năm 2019 - 2020 thì bộ, ngành, địa phương nào cũng thực hiện các giải pháp ứng phó cho ngành, lĩnh vực, địa phương của mình mà không có sự phối hợp và không có bộ nào chủ trì, đồng thời, các giải pháp thực hiện vẫn còn mang tính ứng phó, khắc phục mà chưa có những giải pháp từ sớm, từ xa để phòng tránh, chủ động thích nghi với điều kiện hạn hán thiếu nước trên lưu vực. Đây là một trong những vấn đề tồn tại lớn nhất đã được các chuyên gia chỉ ra trong quá trình tổng kết Luật Tài nguyên nước năm 2012.
Để công tác điều hòa, phân phối tài nguyên nước hiệu quả, chủ động các giải pháp từ sớm, từ xa để phòng tránh tác hại do hạn hán, thiếu nước gây ra, điểm mấu chốt của Luật Tài nguyên nước năm 2023 đã quy định việc thống nhất việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước. Trong đó giao Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với bộ, cơ quan ngang bộ, UBND cấp tỉnh và tổ chức khác có liên quan xây dựng, công bố kịch bản nguồn nước làm cơ sở để các bộ, ngành, địa phương lập kế hoạch khai thác, sử dụng tài nguyên nước phù hợp với kịch bản nguồn nước. Trường hợp có dự báo nguồn nước ở trạng thái thiếu nước, Bộ TN&MT chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành, địa phương để xây dựng và tổ chức thực hiện phương án điều hòa, phân phối tài nguyên nước góp phần giải quyết cơ bản mâu thuẫn, chồng chéo trong quản lý, điều hòa phân phối và khai thác tài nguyên nước.
Ông Châu Trần Vĩnh - Cục trưởng Cục Quản lý tài nguyên nước cho biết, việc xây dựng kịch bản nguồn nước cho 13 lưu vực sông tại Việt Nam là nhiệm vụ lần đầu tiên được triển khai thực hiện.
Thực hiện nhiệm vụ được Bộ TN&MT giao, thời gian qua, Cục Quản lý tài nguyên nước đã phối hợp với các cơ quan, đơn vị chuyên môn thuộc Bộ TN&MT tổ chức nhiều cuộc họp để nghiên cứu, thống nhất các phương pháp tiếp cận, xây dựng Kịch bản nguồn nước cho 13 lưu vực sông liên tỉnh. Đồng thời, lãnh đạo Cục Quản lý tài nguyên nước đã thống nhất phân công cụ thể các nội dung, phạm vi thực hiện cho từng cơ quan, đơn vị có liên quan để bảo đảm tiến độ theo kế hoạch đã được Bộ ban hành.

Công trình thuỷ lợi trên sông Cái Lớn, Kiên Giang – Siêu công trình thủy lợi lớn nhất Việt Nam
Theo ông Châu Trần Vĩnh, kịch bản nguồn nước được xây dựng trên cơ sở hiện trạng nguồn nước trên các lưu vực sông, dự báo khí tượng thủy văn, diễn biến nguồn nước và các dữ liệu về hiện trạng nguồn nước mặt, nước dưới đất, hiện trạng tích trữ nước trong các hồ chứa trên lưu vực sông, mực nước trong các tầng chứa nước; nhu cầu khai thác, sử dụng tài nguyên nước; dự báo xu thế diễn biến lượng mưa, lượng dòng chảy, lượng nước tích trữ tại các hồ chứa, mực nước trong các tầng chứa nước trong năm; đánh giá mức độ hạn hán, thiếu nước trên các lưu vực sông.
Theo đó, kịch bản nguồn nước là cơ sở để các ngành có khai thác, sử dụng nước (như: Nông nghiệp, công thương, cấp nước,...) và các địa phương trong lưu vực sông xây dựng, điều chỉnh kế hoạch khai thác, sử dụng nước, từ đó sẽ chủ động được cơ cấu mùa vụ, cây trồng,... chủ động ứng phó với hạn mặn từ sớm, từ xa và hạn chế được các thiệt hại.
Cũng theo ông Châu Trần Vĩnh, điểm mấu chốt đặc biệt quan trọng của kịch bản nguồn nước là xác định được trạng thái của nguồn nước, trạng thái của nguồn nước phản ánh khả năng của nguồn nước và mức độ đáp ứng các nhu cầu khai thác, sử dụng nước trên lưu vực sông. Theo đó, trạng thái nguồn nước được xác định, công bố trong kịch bản nguồn nước hằng năm và là cơ sở để cảnh báo, định hướng, xây dựng phương án và thực hiện việc điều hòa, phân phối tài nguyên nước trên lưu vực sông, tiểu lưu vực sông.
Cùng với đó, căn cứ kịch bản nguồn nước được công bố, hiện trạng và diễn biến nguồn nước, dự báo khí tượng thủy văn, Bộ TN&MT quyết định việc cập nhật kịch bản nguồn nước để phục vụ xây dựng kịch bản nguồn nước của các bộ, UBND cấp tỉnh.