Hội thảo báo cáo kết quả đề tài Khoa học Công nghệ cấp Bộ mã số TNMT.2018.02.13

 

Phát biểu khai mạc Hội thảo, TS. Nguyễn Anh Đức, Phó Viện trưởng Viện Khoa học tài nguyên nước đã nhấn mạnh các kết quả của đề tài “Nghiên cứu xác định nguyên nhân sạt lở bờ sông và đề xuất công nghệ cảnh báo, dự báo mức độ sạt lở bờ sông tại một số khu vực sạt lở trọng điểm ở Đồng bằng sông Cửu Long

Hội thảo báo cáo kết quả đề tài KHCN cấp Bộ TNMT.2018.02.13

Trong những năm gần đây, Đồng bằng sông Cửu Long liên tiếp xảy ra các vụ sạt lở bờ sông, bờ biển, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của người dân các tỉnh, đặc biệt tại tỉnh An Giang, Đồng Tháp. Thực trạng này đòi hỏi các cấp, ngành, địa phương Đồng bằng sông Cửu Long phải tập trung tìm giải pháp, khẩn trương xử lý nhằm giảm thiểu thiệt hại do sạt lở gây ra.

Để có các giải pháp hiệu quả, công tác dự báo, cảnh báo mức độ sạt lở bờ sông đóng vai trò quan trọng. Tuy nhiên, hiện nay, khả năng đáp ứng về nguồn số liệu của các hệ thống quan trắc, giám sát cũng như cơ sở hạ tầng về phần cứng và phần mềm phục vụ dự báo còn nhiều hạn chế.

Báo cáo “Kết quả mô phỏng quá trình vận chuyển bùn cát khu vực sạt lở nghiêm trọng ở ĐBSCL bằng mô hình MIKE 21” do ThS. Lục Anh Tuấn - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM và TS. Ngô Chí Tuấn -Trường Đại học Khoa học tự nhiên, ĐHQGHN trình bày. Báo cáo đã trình bày trình trạng sạt lở bờ xảy ra ở Đồng bằng Sông Cửu Long đã và đang diễn ra theo chiều hướng gia tăng.

Các vị trí sạt lở đang được khắc phục bằng các biện pháp như kè bờ bằng các rọ đá, thả bao tải cát xuống vùng mép bờ sông, xây dựng các bờ kè bê tông kiên cố. Ngoài các vị trí xói đã tồn tại, hiện nay hình thành khá nhiều hố xói đang dần dịch chuyển đến các vị trí mới- động năng của dòng chảy ở những vị trí được kè đá đang dần tạo ra các hố xói ở vị trí khác. Việc chênh lệch mực nước giữa mùa lũ và mùa kiệt có biên độ lớn cộng hưởng với chế độ triều cường trên khu vực cũng là một trong những nguyên nhân gây nên các vị trí sạt lở mới.

ThS. Lê Ngọc Anh - Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM trình bày báo cáo “Ứng dụng mô hình TELELAC mô phỏng quá trình vận chuyển, phân phối bùn cát và xu hướng sạt lở trên sông Tiền và sông Hậu ở An Giang và Đồng Tháp”. Kết quả nghiên cứu cho thấy, hình thái biến đổi đáy trên 2 sông Tiền và sông Hậu có những đặc trưng riêng biệt tại các khu vực khác nhau. Có thể chia thành 3 khu vực:

Vùng thượng lưu (ST1, SH1): khu vực này chịu ảnh hưởng chủ yếu của dòng chảy trong sông mang tính chất mùa sâu sắc. Mùa lũ là thời kỳ lắng động bùn cát nhiều nhất do thượng lưu cung cấp, mùa kiệt là mùa thiếu hụt bùn cát lớn nhất. Nguồn bùn cát lắng động trong mùa lũ không đủ bù đắp cho sự thiếu hụt trong mùa kiệt nên tổng lượng bùn cát luôn thiếu hụt làm cho đáy sông có xu hướng ngày càng đào sâu.

Vùng trung lưu (ST2, SH2): đây là khu vực chịu tác động mạnh của dòng chảy trong sông và dòng triều suy yếu, có động lực vận chuyển bùn cát mạnh, lượng bùn cát tại đây luôn dịch chuyển xuống hạ lưu làm cho đáy ngày càng xói sâu, độ sâu xói trung bình năm lớn. Có thể nói khu vực này có hình thái biến đổi chưa ổn định, quá trình bồi xói sâu sẽ giảm dần theo thời gian để đạt trạng thái cân bằng mới.

Vùng hạ lưu, ven biển (ST3, SH3): đây là khu vực khá cân bằng giữa động lực dòng chảy trong sông và biển Đông, đón nhận nguồn bùn cát dồi dào từ khu vực thượng lưu nên biến đổi hình thái tại đây theo xu hướng bồi, các lưỡi cát được hình thành tại khu vực cửa sông và lấn dần ra phía biển và được dòng chảy mang ra biển Đông. Những dữ liệu quan trắc về bùn cát và dòng chảy tại trạm Tân Châu và Châu Đốc trong giai đoạn từ 2010 – 2019 cho thấy xu hướng tổng lượng bùn cát ngày càng giảm. Điều này khá phù hợp với kết quả mô phỏng tổng lượng bùn cát tích lũy tại các khu vực như đã trình bày.

Báo cáo “Đề xuất Công nghệ dự báo, cảnh báo sạt lở cho khu vực sạt lở nghiêm trọng ở An Giang và Đồng Tháp” do ThS. Lưu Văn Ninh thuộc Đài KTTV tỉnh An Giang và TS. Cấn Thu Văn thuộc Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP.HCM trình bày. Báo cáo đã xác định các nguyên nhân, cơ chế sạt lở điển hình của 3 vị trí nghiên cứu và thiết lập các tương quan giữa dữ liệu đầu vào và mức độ sạt lở tại vị trí nghiên cứu. Dựa vào tổ hợp các yếu tố đầu vào là trị số dự báo, hệ thống sẽ tính toán chỉ số nguy cơ và đưa ra cảnh báo nguy cơ sạt lở cho từng vị trí. Dựa vào tổ hợp các dữ liệu thực đo thời gian thực được thu thập, hệ thống sẽ phân tích và đưa ra cảnh báo tức thì cho từng vị trí.

Sau khi trình bày các bài tham luận, các đại biểu và khách mời cùng thảo luận về những kết quả đạt được và những tồn tại khắc phục. Về cơ bản đề tài đã thực hiện được một khối lượng công việc lớn đáp ứng yêu cầu đặt hàng, tuy nhiên, để kết quả được hoàn thiện và có tính ứng dụng cao hơn cần có sự phối hợp chặt chẽ với Sở ban nghành địa phương, đặc biệt tỉnh An Giang và Đồng Tháp.

Phát biểu tổng kết Hội thảo, TS. Nguyễn Anh Đức đề nghị nhóm thực hiện đề tài tiếp thu ý kiến của các đại biểu, khách mời và tiếp tục chỉnh sửa, hoàn thiện các báo cáo để chuẩn bị cho Hội đồng nghiệm thu đề tài.

 

 

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_LienKet

 Content Editor

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_AnPham_Phai

ẤN PHẨM NỔI BẬT