Đánh giá diễn biến hạn hán và phân cấp độ yếu tố tác động đến hạn thủy văn ở vùng Đồng bằng sông Hồng- Thái Bình

 

Hạn hán là một loại hình thiên tai phổ biến ở Việt Nam, đứng thứ 3 sau bão và lũ. Trong những năm gần đây, hạn hán có xu thế trầm trọng hơn do hiện tượng ấm lên toàn cầu và ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội, gây nhiều thiệt hại về dân sinh, kinh tế và môi trường. Hạn hán có thể xảy ra do nguyên nhân tự nhiên và cả nguyên nhân xuất phát từ hoạt động của con người. Các yếu tốt tự nhiên gây ra hạn hán bao gồm sự dao động của các dạng hoàn lưu khí quyển ở phạm vi rộng và các vùng xoáy nghịch, hoặc các hệ thống áp cao, biến đổi khí hậu, sự thay đổi nhiệt độ bề mặt nước biển. Các yếu tố do con người gây ra hạn hán bao gồ nhu cầu sử dụng nước gia tăng, phá rừng, ô nhiễm nguồn nước, quản lý đất và nước kếm bền vững.

Các nghiên cứu về hạn hán do vậy là rất cần thiết để đảm bảo an ninh nước, phát triển kinh tế- xã hội. Có nhiều hướng tiếp cận trong nghiên cứu về hạn hán có thể kể đến nhưng thường bao gồm các nhóm phương pháp cổ điển và phương pháp hiện đại. Các nhóm phương pháp cổ điển bao gồm đo đạc tại thực địa, phân tích số liệu để đánh giá xu thế. Các phương pháp hiện đại hơn bao gồm việc sử dụng ảnh vệ tinh và các mô hình thủy văn, thủy lực để dự báo hạn hán trong tương lai cũng như hồi báo hạn hán trong quá khứ.

Nghiên cứu này sử dụng các chỉ số đánh giá hạn hán để phân tích hiện trạng vả cảnh báo xu thế hạn hán cho vùng Đồng bằng Sông Hồng (ĐBSH). Có hai chỉ số được sử dụng bao gồm chỉ số thiếu hụt dòng chảy Kth và chỉ số cấp nước mặt SWSI. Các chỉ số được xác định trên cơ sở phân tích biến động của các yếu tố khí tượng thủy văn từ đó đưa ra được các tiêu chí, mức độ tác động của các yếu tố này đến hạn hán vùng ĐBSH.

Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu bao gồm số liệu khí tượng, thủy văn và các số liệu về dân sinh, kinh tế- xã hội trong khu vực. Số liệu khí tượng thủy văn gồm có lưu lượng trung bình ngày trong 55 năm từ 1960 đến 2014 của các trạm Sơn Tây, Hà Nội và Thượng Cát. Số liệu lượng mưa được sử dụng gồm số liệu từ năm 1960 đến 2014 của trạm khí tượng Sơn Tây và Láng. Số liệu kinh tế xã hội sử dụng trong nghiên cứu được thu thập từ 10 tỉnh vùng ĐBSH và sông Thái Bình bao gồm: số liệu đất đai, tổng dân số, tỷ lệ thành thị và nông thôn, các số liệu này được cập nhật trên cơ sở niên giám thống kê.

Kết quả cho thấy mức độ thiếu hụt dòng chảy phụ thuộc chủ yếu vào độ lớn của lưu lượng trung bình mùa cạn và chế độ dòng chảy. Chỉ số Kth có sự biến đổi của chỉ số thiếu hụt thời kì trước và sau khi có các hồ chứa trên sông Hồng. Do đó, có thể thấy:

  • Trước khi có hồ Hòa Bình từ năm 1960-2987, các năm thường có hạn nặng tại cả 3 trạm. Nguyên nhân là do chưa có sự phân chia nước qua sông Đuống
  • Sau khi có hồ Hòa Bình tham gia vào vận hành điều tiết, số năm hạn rất nặng tại trạm Thượng Cát giảm rõ rệt, thậm chí nhiều năm không xảy ra hạn.

Các tiêu chí, yếu tố tác động chính cũng như thứ tự thể hiện mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đến diễn biến hạn hán bao gồm dòng chảy, lượng mưa, lượng bốc hơi, nhiệt độ, và cuối cùng là yếu tố con người liên quan đến nhu cầu sử dụng nước, khai thác cát- làm hạ thấp nghiêm trọng mực nước mùa kiệt

Hồ Việt Cường, Trần Văn Trà, Nguyễn Huy Phương

 

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_LienKet

 Content Editor

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_AnPham_Phai

ẤN PHẨM NỔI BẬT