Xây dựng nhóm chỉ tiêu kiểm kê chất lượng nước mưa

 

  1. Khái niệm nước mưa

Mưa là một hiện tượng tự nhiên, xảy ra do sự ngưng tụ của hơi nước trên bầu trời, dưới dạng những đám mây, khi gặp điều kiện thích hợp, tạo thành giọt nước, nặng hơn không khí, và rơi xuống mặt đất, tạo thành cơn mưa. Mưa có các dạng như: mưa phùn, mưa rào, mưa đá, các dạng khác như, mưa tuyết, mưa sương.

Nước mưa là nước thải tự nhiên. Nước được tạo thành do sự ngưng tụ của hơi nước trên bầu trời, dưới dạng những đám mây, khi gặp điều kiện lạnh, tạo thành giọt nước, nặng hơn không khí. Và rơi xuống mặt đất, tạo thành nước mưa.

Nước mưa cũng giống như nước cất vì có cùng nguyên lý hoạt động là do hơi nước ngưng tụ. Tuy nhiên nước mưa chứa nhiều yếu tố hóa học và vi sinh vật được hấp thụ trong quá trình giao lưu trong khí quyển. Cho nên nước mưa chứa nhiều bụi, vi khuẩn, các tạp chất hóa học ít nhiều thuỳ vào mùa và tuỳ từng vùng miền núi, đồng bằng hay khu công nghiệp,… Các vi khuẩn và tạp chất hữu cơ sẽ càng ít nếu mưa càng nhiều và lâu.

Hình 1. Sự hình thành nước mưa

Mưa axit - Chính xác là trong nguồn nước đã bị ô nhiễm nặng và hậu quả là nước mưa cũng nhiễm những chất độc hại đó. Các tạp chất tồn tại trong khí quyển gồm các khí như: NO2, NH3, H2S,… do các quá trình phân hủy ở mặt đất và Cl2, CO2, CH4 do các nhà máy thải ra, SO2 do đốt than, dầu mỏ,… Bên cạnh đó nước mưa còn mang theo các bụi thực vật hay là các chất hữu cơ dễ bay hơi,… nhưng khí CO2 và O2 là chứa nhiều trong nước mưa nhất.

E.coli (Escherichia coli) là một loại vi khuẩn có thể sẽ tồn tại trong nước mưa. Những xét nghiệm trước đây không khi nào là vô khuẩn kể cả nước mưa hứng giữa trời. Thậm chí ở một số vùng có nước mưa chứa lượng lớn vi khuẩn như nguồn nước giếng chưa được xử lý nữa. Nước mưa chứa nhiều vi khuẩn như vậy là vì mưa rơi xuống “rửa” nhiều bụi trong bầu khí quyển sẽ hoà lẫn vào nhau hoặc do cách con người hứng nước mưa như mái nhà có nhiều bụi, phân chim, bể chứa lưu cữu, nhiều rong rêu.

  1. Các trạm quan trắc hóa nước

Các trạm quan trắc nước mưa được phân bố trên cả nước có 23 trạm bao gồm ở phía Bắc (9 trạm) là Thái Nguyên, Việt Trì, Bắc Giang, Bãi Cháy, Phủ Liễn, Hải Dương, Hà Nội, Ninh Bình, Cúc Phương; miền Trung (7 trạm): Thanh Hoá, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang, Phan Thiết; khu vực Tây Nguyên (3 trạm): Pleiku, Buôn Mê Thuật, Đà Lạt; phía Nam (4 trạm): Tân Sơn Hoà, Tây Ninh, Cần Thơ, Cà Mau. Phân bố các trạm được thể hiện như hình dưới đây:

Hình 2. Vị trí các trạm quan trắc hóa nước mưa thuộc Tổng Cục Khí tượng Thủy văn

Mạng lưới quan trắc thuộc Tổng Cục Khí tượng Thủy Văn bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1980 đến nay, hầu hết các trạm được đặt cùng các trạm Khí tượng, thiết bị lấy mẫu được đặt trong vườn khí tượng, quy trình lấy mẫu, bảo quản, phân tích mẫu được quy định và quản lý của Tổng cục Khí tượng thủy văn. Hàng năm, trang thiết bị phục vụ quan trắc được cung cấp, duy tu, bảo dưỡng đảm bảo thực hiện đo đạc tại trạm cũng như phân tích tại các phòng thí nghiệm. Hiện nay, mạng lưới quan trắc của Tổng cục Khí tượng thủy văn có 03 phòng thí nghiệm quan trắc môi trường được đặt tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, các phòng thí nghiệm đều đảm bảo quan trắc theo quy trình ISO và đạt chuẩn VLAS. Các thông số đo đạc, phân tích mẫu nước mưa gồm: nhiệt độ, pH, EC, SO42-, NO3-, NH4+, Cl-, Ca2+, Na+, Mg2+, K+, HCO3-.

Bên cạnh việc phân tích mẫu nước mưa trong phòng thí nghiệm đạt chuẩn V-LAS theo những quy trình ISO nghiêm ngặt, thì việc lấy mẫu, bảo quản mẫu cũng được quy định chặt chẽ và thống nhất trên cả nước. Một số yêu cầu được Quy định theo Quy định (Quy phạm kỹ thuật) của Tổng cục Khí tượng thủy văn.

 Mẫu nước mưa ở các trạm này được thu thập theo phương pháp bán tự động hoặc /và tự động, pH và EC được đo tại chỗ. Mẫu nước mưa được thu thập theo từng trận mưa, ngoài ra các mẫu tổ hợp định kỳ 10 ngày/lần (trước năm 2013), từ năm 2013 đến nay là 7 ngày/lần (mẫu tuần) cùng được lấy để phân tích thành phần hóa học theo một quy trình kỹ thuật chung.

  1. Chỉ tiêu đánh giá chất lượng nước mưa

Theo Căn cứ Thông tư 24/2017/TT-BTNMT ngày 01 tháng 9 năm 2017 Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường: thông số quan trắc chất lượng nước mưa bao gồm: nhiệt độ, pH, EC, TDS, các thông số khí tượng, C1-, F-, NO2-, NO3-, P043-, SO42-, NH4+, Na+, Ca2+, Mg2+.

Theo Thông tư 32/2011/TT-BTNMT ngày 01 tháng 8 năm 2011 Thông tư Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc chất lượng nước mưa. Thông số quan trắc bao gồm:

  • Thông số đo, phân tích tại hiện trường: hướng gió, tốc độ gió, nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, bức xạ mặt trời.
  • Thông số khác

- Thông số bắt buộc quan trắc: độ pH, độ dẫn điện (EC), các ion canxi (Ca+2), magie (Mg+2), natri (Na+), kali (K+), amoni (NH4+), clorua (Cl-), nitrat (NO3-), sunphat (SO4-2).

- Thông số không bắt buộc quan trắc: nitrit (NO2-), florua (F-), bromua (Br), hidrocacbonat (HCO3-), axit hữu cơ, photphat (PO43-), kim loại nặng, nhôm (Al), và các hợp chất hữu cơ.

  1. Các thông số chất lượng nước mưa

      a.  pH

Độ pH là chỉ số xác định tính chất hóa học của dung dịch, với nước là chỉ số đo độ hoạt động của các ion Hydro (H+) trong nước. Đối với nước mưa, giá trị pH thường được sử dụng như một thước đo để xác định tính axit. Khi độ pH bằng 7 thì được coi là trung tính. Khi pH > 7 hay pH < 7 thì được coi là bazơ hay axit tương ứng. Tuy nhiên, trong khí quyển luôn có mặt khí cacbonic (CO2) nên giá trị trung tính của nước mưa trong khí quyển thường được lấy ở pH = 5,6.

  1. EC

EC là chữ viết tắt của Electrical Conductivity, hay còn gọi là độ dẫn điện. EC đo lường khả năng dẫn điện của dung dịch. Trong nước có nhiều phân tử muối hòa tan, tồn tại ở dạng: ion dương, hay cation và ion âm, hay anion. Sự tồn tại của muối trong dung dịch giúp dung dịch có khả năng dẫn điện. Vì thế, dung dịch càng chứa nhiều muối thì độ dẫn điện (EC) càng cao.

Độ dẫn điện của nước liên quan đến sự có mặt của các ion trong nước. Các ion này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO42-, NO3-, PO43- v.v...; Đơn vị tính là µS, mS.

  1. TDS

TDS là từ viết tắt của Total Dissolved Solids – Tổng chất rắn hòa tan. TDS là chỉ số đo lường tất cả hàm lượng chất rắn hữu cơ và vô cơ có chứa trong dung dịch tồn tại ở dạng phân tử, hạt dạng ion hoặc lơ lửng.

  1. Cl-

Clorua làm cho nước có vị mặn. Ion này thâm nhập vào nước qua sự hoà tan các muối khoáng hoặc bị ảnh hưởng từ quá trình nhiễm mặn các tầng chứa nước ngầm hay ở đoạn sông gần biển. Đơn vụ tính là mg/l.

Trên tầng cao khí quyển, gốc Clo trong hợp chất FREON được giải phóng sẽ làm tan rã các phân tử khí O3, làm thủng lớp vỏ ozone bảo vệ trái đất khỏi bức xạ tử ngoại.

  1. F-

Florua là một anion hóa vô cơ, đơn phân tử của flo với công thức hóa học F-, Florua là anion đơn giản nhất của flo. Muối và khoáng chất của nó là các hợp chất phản ứng hóa học và hóa chất công nghiệp quan trọng, chủ yếu được sử dụng trong sản xuất hydro florua cho các chất fluorocarbon.

Florua có trong tự nhiên với nồng độ thấp khi uống nước và thực phẩm được lấy nước từ bề mặt (nước mưa/nước)... các nguồn cung cấp nước nói chung chứa đựng tỷ lệ fluoride giữa 0.01–0.3 ppm.

  1. NOx; NH4+

NO3-, NH4+: Quá trình phân huỷ các chất hữu cơ tạo ra amoniac (NH4+), nitrit (NO2-) và nitrat (NO3-). Các hợp chất này thường được xem là những chất chỉ thị dùng để nhận biết mức độ nhiễm bẩn của nguồn nước. Sau một thời gian NH4+, NO2- bị oxy hoá thành NO3-. Đơn vị tính là mg/l.

Oxít Nitơ có nhiều loại nhưng thường gặp nhất là NO và NO2. Chất khí này được hình thành khi Nitơ và oxy trong không khí kết hợp với nhau ở điều kiện nhiệt độ cao. Do vậy nó chỉ thường thấy ở các khu công nghiệp và đô thị lớn. Trong khí quyển, NO2 kết hợp với các gốc OH trong không khí để tạo thành HNO3. Khi trời mưa NO2 và các phân tử HNO3 theo nước mưa rơi xuống đất làm giảm độ PH của nước mưa. NOx và CO2 là nguyên nhân gây ra hiện tượng ô nhiễm kiểu Los Angeles: Là một kiểu ô nhiễm đặc trưng do khói thải xe hơi gây ra với cường độ lớn gặp lúc thời tiết không thuận lợi cho việc khuếch tán và rửa sạch chất ô nhiễm trong không khí.

  1. SO4

Ion sunfat thường có trong nước có nguồn gốc khoáng chất hoặc nguồn gốc hữu cơ; Đơn vị tính là mg/l.

  1. Cơ sở khoa học, thực tiễn lựa chọn các chỉ tiêu kiểm kê chất lượng nước mưa
  2.  

Việc lựa chọn các chỉ tiêu thống kê về chất lượng tài nguyên nước mưa phải thể hiện tính khoa học, thực tế về mối quan hệ giữa chất lượng nước mưa với nguồn phát thải và đối tượng tiếp nhận bị tác động của nước mưa, cụ thể:

  • Với nguồn phát thải

Do quá trình giao lưu, các tạp chất của khí quyển mà chủ yếu có nguồn gốc từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt của bề mặt trái đất đã hấp thụ, hòa tan và tham gia vào thành phần hóa học của nước mưa. Do vậy việc lựa chọn và xác định một số chỉ tiêu hóa học trong nước mưa qua đó biết tạp chất trong khí quyển và bề mặt trái đất. Có nghĩa rằng từ định lượng và định tính của các chỉ tiêu thống kê chất lượng nước mưa người ta biết được một cách tương đối chất lượng môi trường không khí của bề mặt trái đất. Cụ thể như sau:

  1. Chỉ tiêu về nồng độ H+, SO42-, NO3- , CL- , NH4+ trong nước mưa

Các khí thải ra trên bề mặt trái đất từ hoạt động sản xuất (nhất là khí thải do hoạt động công nghiệp) và hoạt động sống của sinh giới chủ yếu là CO2, SO2, NO2 được phát tán vào khí quyển đồng thời tham gia vào thành phần hóa học của nước mưa. Khi được nước mưa hòa tan chúng chuyển hóa thành các axit dễ phân ly như: H2CO3, HNO3, H2SO3, H2SO4, kết quả phân ly giải phóng ra ion H+ đây chính là thủ phạm chính gây nên tính axit hay bazo trong nước mưa. Do vậy từ nồng độ H+ hay độ pH trong nước mưa và SO42-, NO3-, người ta có thể suy đoán chất lượng môi trường không khí trên bề mặt trái đất, trong đó nồng độ H+ được coi là chỉ tiêu thống kê tài nguyên nước mưa quan trọng nhất.

Trong thành phần các chất đốt tự nhiên như than đá và dầu mỏ có chứa một lượng lớn lưu huỳnh, còn trong không khí lại chứa nhiều nitơ. Quá trình đốt sản sinh ra các khí độc hại như: lưu huỳnh đioxit (SO2) và nitơ đioxit (NO2). Các khí này hòa tan với hơi nước trong không khí tạo thành các axit sunfuaric (H=SO4) và axit nitric (HNO3). Khi trời mưa, các hạt axit này hòa tan vào nước mưa, làm độ pH của nước mưa giảm.

Mưa axít: là hiện tượng nước mưa có độ pH dưới 5,6. Đây là hậu quả của quá trình tiêu thụ nhiều than đá, dầu mỏ và các nhiên liệu khác. Do có tính axit khá lớn, nước mưa có thể hoà tan được một số bụi kim loại và ôxit kim loại có trong không khí như ôxit chì (Pb),... làm cho nước mưa trở nên độc hơn nữa đối với cây cối, vật nuôi và con người.

Quá trình hình thành mưa axit như sau:

Hai tác nhân chính gây ra mưa axit là sunfua dioxit (SO2) và Nitơ oxit (NOx). SO2 là một chất khí không màu, nặng hơn không khí, là sản phẩm phụ của quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch có chứa lưu huỳnh. Ngoài ra SO2 cũng được sinh ra do các hoạt động của núi lửa, sự thối rữa của một số loài động thực vật và từ các phương tiện giao thông…

Nitơ oxit bao gồm các dạng như NO2, N2O... NOx được hình thành do các hoạt động nhân tạo như giao thông, công ngiệp, nông nghiệp,… Ngoài ra NOx cũng được sinh ra từ một số các nguồn tự nhiên như: các hoạt động của vi khuẩn trong đất, cháy rừng, hoạt động của núi lửa, sét…

Các khí thải từ quá trình đốt cháy nguyên liệu như NOx, SO2 phản ứng với các phân tử nước trong khí quyển để tạo thành axit H2SO4 và HNO3 tương ứng. Các phản ứng hình thành 2 axit này như sau:

Cơ chế hình thành axit H2SO4:

S + O2→ SO2

SO2 + OH → HOSO2

HOSO2 + O2 → HO2 + SO3

SO3(k) + H2O(l) → H2SO4(l);

Cơ chế hình thành axit HNO3:

N2 + O2 → 2NO;

2NO + O2 → 2NO2;

3NO2(k) + H2O(l) → 2HNO3(l) + NO(k);

Axit sulfuric H2SO4 và axit nitric HNO3 là thành phần chủ yếu trong các dạng lắng đọng axit (mưa, sương mù và tuyết axit…).

Quá trình lắng đọng axit diễn ra theo hai hình thức:

Lắng đọng ướt: axit H2SO4 và axit HNO3 tạo thành được tích tụ trong các đám mây rồi rơi xuống mặt đất theo mưa, sương hoặc tuyết.

Lắng đọng khô: Các axit trong không khí dưới dạng khí hoặc hạt bụi được gió thổi đi và rơi xuống cây cối, nhà cửa, mặt đất. Hoặc các oxit axit SO2 và NOx xâm nhập vào ao, hồ, sông, suối sau đó chúng sẽ phản ứng với nước để tạo ra các axit làm giảm pH của nước trong ao, hồ.

Axit H2SO4 và axit HNO3 là những axit mạnh có thể hoà tan được một số bụi kim loại và oxit kim loại có trong không khí, đất như oxit chì, cadimi... làm cho nước mưa trở nên độc hơn đối với cây cối, vật nuôi và con người cũng như các hệ sinh thái tự nhiên.

  1. Chỉ tiêu về độ dẫn điện (EC)

Độ dẫn điện là thước đo gần đúng nồng độ các muối vô cơ hòa tan trong nước, kể cả các kim loại nặng. Do vậy thông qua độ dẫn điện người ta có thể suy đoán chất lượng môi trường không khí thông qua nồng độ bụi trên bề mặt trái đất, đặc biệt trong điều kiện pH thấp (pH<5) các bụi kim loại có thể hòa tan nhiều hơn trong nước mưa.

  • Với đối tượng tiếp nhận

Chỉ tiêu thống kê về nồng độ H+, SO42-, NO3-, CL-, NH4+, EC có ảnh hưởng trực tiếp đến hầu hết các đối tượng tiếp nhận nhất là thực vật, thổ nhưỡng (sự suy giảm nồng độ H+ và sự gia tăng độ muối hòa tan). Trong thời gian gần đây tần suất xuất hiện mưa axit ngày càng cao thì chỉ tiêu thống kê về pH lại đặc biệt quan trọng. Mưa axit có pH <5 và đồng thời có nồng độ muối hòa tan cao (trong đó một số kim loại nặng độc hại) ảnh hưởng xấu tới các thuỷ vực. Các dòng chảy do mưa axit đổ vào hồ, ao sẽ làm độ pH của hồ, ao giảm đi nhanh chóng, các sinh vật trong hồ, ao suy yếu hoặc chết hoàn toàn. Hồ, ao trở thành các thuỷ vực chết. Mưa axit ảnh hưởng xấu tới đất do nước mưa ngầm xuống đất làm tăng độ chua của đất, hoà tan các nguyên tố trong đất cần thiết cho cây như canxi (Ca), magiê (Mg),... làm suy thoái đất, cây cối kém phát triển. Mưa axit còn phá huỷ các vật liệu làm bằng kim loại như sắt, đồng, kẽm,... làm giảm tuổi thọ các công trình xây dựng, làm lở loét bề mặt bằng đá của các công trình. Mưa axit do các hoá chất nhiễm bẩn tạo thành, phổ biến là SO2 và NO2, khi chúng thâm nhập vào cơ thể qua các đường khác nhau đều gây tác hại cho người, nhất là với hệ hô hấp. Nếu hít vào cơ thể lượng SO2 nồng độ cao sẽ bị phù thanh quản, viêm phế quản. Mặc dù nước mưa chứa các lượng tương đương amônium và nitrat, nhưng do amônium là tương đối khó chuyển hóa/hấp thụ hơn so với nitrat khí quyển nên phần lớn nitơ trong khí quyển chỉ có thể đi vào trong đất dưới dạng nitrat. Nitrat trong đất được các loại rễ cây hấp thụ tốt hơn so với khi nitơ ở dưới dạng amônium.

Nước mưa chứa nhiều yếu tố hóa học mà nó hấp thụ trong khí quyển. Giọt mưa (khoảng 50mg), rơi từ độ cao 1km sẽ "rửa" 16,3 lít không khí. Trong không khí chứa nhiều bụi, vi khuẩn, các tạp chất hóa học.

- Về vi khuẩn: có thể có mặt coli (Escherichia coli) là loại vi khuẩn có nguồn gốc trong phân người, xúc vật và các vi khuẩn hiếu khí và kị khí khác.

Tạp chất trong khí quyển bao gồm các khí NO2, NH3, H2S... Nguồn gốc là do:

+ Các quá trình phân hủy ở mặt đất;

+ Cl- có nguồn gốc từ biển;

+ K+, Ca+ có nguồn gốc từ đất liền,

+ SO42- có nguồn gốc từ phát thải nhân tạo;

+ Cl2, CO2, CH4... do các nhà máy thải ra, SO2 do đốt than, dầu mỏ.

- Chất hữu cơ dễ bay hơi, các bụi thực vật.

- Chứa bụi kim loại nặng như Zn, Fe, Cu, Pb..., những kim loại này phát sinh từ các khu công nghiệp, trong khói xe của các phương tiện giao thông, tại các làng nghề tái chế kim loại.

  1. Nhóm chỉ tiêu kiểm kê chất lượng nước mưa

Theo các hệ thống văn bản và cơ sở khoa học, thực tiễn có thể phân ra các nhóm chỉ tiêu kiểm kê chất lượng nước mưa như sau:

(1) Chỉ tiêu thống kê pH: là chỉ số đo độ hoạt động của các ion hiđrô (H+) trong dung dịch và vì vậy là độ axít hay bazơ của nó.

(2) Chỉ tiêu thống kê EC: Độ dẫn điện của nước liên quan đến sự có mặt của các ion trong nước. Các ion này thường là muối của kim loại như NaCl, KCl, SO42-, NO3-, PO43- v.v...; Đơn vị tính là µS, mS.

(3) Các anion (Cl-, NO3-, SO42-) , các cation (Na+, K+, NH4+, Mg2+, Ca2+).

(4) Kim loại nặng.

(5) Vi sinh.

  1. Hệ thống các văn bản liên quan đến chỉ tiêu chất lượng nước mưa

       a. Thông tư 32/2011/TT-BTNMT

Thông tư 32/2011/TT-BTNMT ngày 01 tháng 8 năm 2011 Thông tư Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc chất lượng nước mưa.

Thông tư này quy định về quy trình kỹ thuật quan trắc môi trường chất lượng nước mưa, gồm: xác định mục tiêu quan trắc, thiết kế chương trình quan trắc và thực hiện chương trình quan trắc.

Thông tư này áp dụng với các đối tượng sau:

-  Các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở Trung ương và địa phương; các trạm, trung tâm quan trắc môi trường thuộc mạng lưới quan trắc môi trường quốc gia và mạng lưới quan trắc môi trường địa phương;

-  Các tổ chức có chức năng, nhiệm vụ về hoạt động quan trắc môi trường, hoạt động dịch vụ quan trắc môi trường để giao nộp báo cáo, số liệu cho cơ quan quản lý nhà nước về môi trường ở Trung ương và địa phương;

Thông tư này không áp dụng cho hoạt động quan trắc chất lượng nước mưa bằng các thiết bị tự động, liên tục.

Các mục tiêu cơ bản trong quan trắc chất lượng nước mưa là:

1. Đánh giá chất lượng nước mưa phục vụ kiểm soát phát thải và tình hình ô nhiễm của khu vực, địa phương, vùng và ô nhiễm xuyên biên giới;

2. Đánh giá, giám sát lắng đọng axit (lắng đọng ướt) theo không gian và thời gian;

3. Đánh giá hiện trạng và xu hướng chất lượng nước mưa;

4. Theo các yêu cầu khác của công tác quản lý, bảo vệ môi trường.

  1. Thông tư 24/2017/TT-BTNMT

Thông tư 24/2017/TT-BTNMT ngày 01 tháng 9 năm 2017 Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường. Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường định kỳ các thành phần môi trường, gồm: không khí ngoài trời, tiếng ồn và độ rung; nước mặt lục địa; nước dưới đất; nước biển; nước mưa; nước thải; khí thải; đất; trầm tích.

 

Tài liệu tham khảo

  1. Thông tư số 24/2017/TT-BTNMT ngày 01 tháng 9 năm 2017 - Quy định kỹ thuật quan trắc môi trường.
  2. Thông tư số 32 /2011/TT-BTNMT ngày 01 tháng 8 năm 2011 Quy định quy trình kỹ thuật quan trắc chất lượng nước mưa.
  3. Hán Thị Ngân, Hoàng Xuân Cơ, Lê Văn Linh, Trần Thị Diệu Hằng (2020), “Đánh giá xu thế các thành phần hóa học trong nước mưa tại Việt Nam bằng phương pháp kiểm nghiệm phi tham số Seasonal mann-Kendal”, Tạp chí Môi trường, Chuyên đề III, tr.101-107.

Phòng Quy hoạch và Dự báo tài nguyên nước

 

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_SuKien

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bảo vệ tài nguyên nước

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ đến năm 2020, tầm nhìn ...

Hướng dẫn tính toán cho hệ thống chỉ tiêu kiểm kê tài nguyên nước cho nhóm chỉ tiêu kiểm kê về lượng nước mưa

Hệ thống chỉ tiêu tài nguyên nước là hệ thống thông số về đặc điểm, tiềm năng và mức độ ...

XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHÓM CHỈ TIÊU KIỂM KÊ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT

Trong nghiên cứu kiểm kê tài nguyên nước, việc xây dựng các phương pháp xác định nhóm chỉ tiêu liên ...

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_LienKet

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_AnPham_Phai

ẤN PHẨM NỔI BẬT

 Content Editor

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_BinhLuan

BÌNH LUẬN