ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC THI LUẬT TÀI NGUYÊN NƯỚC 2012

 

1. Tồn tại, bất cập từ thể chế

a) Thể chế, chính sách hiện nay chưa được tích hợp các quy định về quản lý nước trong một bộ luật về nước để quản lý, kiểm soát, điều tiết toàn diện các vấn đề về nước trên cơ sở thống nhất quản lý về tài nguyên nước.

b) Về đối tượng, phạm vi quản lý trong Luật Tài nguyên nước năm 2012 là chưa cụ thể, rõ ràng, chưa phân định rõ việc khai thác và việc sử dụng nước của các ngành, dẫn đến nhiều bộ, ngành, địa phương cùng quản lý một đối tượng hoặc không rõ trách nhiệm trong quản lý công trình và quản lý tài nguyên nước.

c) Thiếu khung pháp lý cho an ninh tài nguyên nước trong bối cảnh tài nguyên nước của nước ta đang phải chịu nhiều thách thức. Đặc biệt là vấn đề bảo đảm an ninh nước cho sinh hoạt đã và đang là vấn đề lớn cần phải có các cơ chế, chính sách đồng bộ để giải quyết, nâng cao tính chủ động về nguồn nước và bảo đảm an toàn cấp nước cho sinh hoạt và nhu cầu thiết yếu của nhân dân ở mức cao nhất trong mọi tình huống.

d) Chưa chú trọng kinh tế nước, nguồn lực đầu tư cho phát triển ngành nước còn hạn chế; Chưa có chính sách, quy định cụ thể nhằm tính toán đầy đủ, định giá giá trị của tài nguyên nước; Chưa có chính sách cụ thể, rõ ràng về sử dụng và phân bổ nguồn thu cho hoạt động bảo vệ nguồn sinh thủy, dẫn đến không thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng miền.

g) Việc phát triển kinh tế nước, coi sản phẩm nước là hàng hóa thiết yếu, cần được quản lý, vận hành theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước.

2. Tồn tại trong việc tổ chức triển khai Luật Tài nguyên nước

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý về tài nguyên nước trong thời gian qua vẫn còn có nhiều khó khăn, tồn tại, cụ thể là:

a) Việc lập, triển khai các quy hoạch về tài nguyên nước còn chậm dẫn đến chưa có cơ sở phân bổ, điều tiết nhu cầu nước của các ngành theo pháp luật về tài nguyên nước.

b) Công tác điều tra cơ bản tài nguyên nước chưa đạt mục tiêu đề ra, chưa đáp ứng yêu cầu cho công tác quản lý tài nguyên nước. Bên cạnh đó, cơ sở dữ liệu về tài nguyên nước còn nhỏ lẻ, phân tán, chưa đồng bộ.

c) Một số chính sách liên quan đến đảm bảo an ninh nguồn nước, đảm bảo nguồn nước ăn uống và sinh hoạt; liên quan đến bảo đảm cảnh quan và lưu thông dòng chảy của dòng sông, ao hồ còn thiếu và chưa cụ thể,… Việc tổ chức triển khai, đưa các chính sách vào cuộc sống còn chậm và thiếu đồng bộ giữa Trung ương với địa phương và giữa các địa phương.

d) Việc tăng cường năng lực tổ chức thực thi pháp luật tuy đã được quan tâm nhưng vẫn chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, nhất là ở cấp tỉnh; chậm thành lập và triển khai hoạt động các tổ chức lưu vực sông gây khó khăn trong việc triển khai các hoạt động điều phối, giám sát, quản lý tổng hợp, thống nhất theo lưu vực sông.

g) Các vấn đề mang tính liên ngành, liên tỉnh, địa phương như: quy hoạch, phát triển, khôi phục rừng đầu nguồn, bảo vệ nguồn sinh thủy; bảo vệ nguồn nước trong quá trình thực hiện các dự án thủy điện, thủy lợi, nuôi trồng thủy sản,… chưa có sự phối hợp chặt chẽ, đồng bộ giữa cơ quan quản lý tài nguyên nước với các cơ quan, bộ, ngành liên quan và UBND các tỉnh.

h) Công tác kiểm tra việc thi hành pháp luật về tài nguyên nước chưa được thường xuyên. Việc quản lý các dòng sông, bảo đảm sự lưu thông của dòng chảy, quản lý các tầng chứa nước chưa được quy định cụ thể, gây nhiều khó khăn cho việc quản lý.

3. Những vấn đề phát sinh trong thực tiễn

Bên cạnh những tồn tại, bất cập của Luật Tài nguyên nước năm 2012, thì trong vòng 10 năm trở lại đây việc quản lý, bảo vệ tài nguyên nước còn tồn tại một số thách thức và những vấn đề phát sinh trong thực tiễn, cụ thể như:

a) Phát triển KT-XH với quy mô dân số nhanh (gần 100 triệu người) kéo theo nhu cầu sử dụng nước lớn; mâu thuẫn trong khai thác, sử dụng nước giữa các địa phương, các ngành, lĩnh vực trên lưu vực sông ngày càng lớn, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ và nhanh chóng.

b) Nguồn lực đầu tư cho phát triển ngành nước còn hạn chế, chủ yếu từ ngân sách Nhà nước, thiếu cơ chế chính sách thu hút được sự tham gia của khu vực tư nhân.

c) Hiệu quả khai thác, sử dụng nước trong các ngành còn thấp; rừng đầu nguồn suy giảm và công tác bảo vệ nguồn sinh thuỷ chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức.

d) Nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền và người dân ở một số địa phương về chấp hành pháp Luật Tài nguyên nước hạn chế; Tổ chức bộ máy còn chưa phù hợp, tương xứng; chức năng, nhiệm vụ chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước thấp.

Tài liệu tham khảo

Cục Quản lý tài nguyên nước.

Phòng Quy hoạch và Dự báo tài nguyên nước

 

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_SuKien

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Bảo vệ tài nguyên nước

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thành phố Cần Thơ đến năm 2020, tầm nhìn ...

Xây dựng nhóm chỉ tiêu kiểm kê chất lượng nước mưa

Nước mưa có vai trò rất quan trọng trong việc bổ sung nguồn dữ trữ nước mặt và nước ngầm. ...

Hướng dẫn tính toán cho hệ thống chỉ tiêu kiểm kê tài nguyên nước cho nhóm chỉ tiêu kiểm kê về lượng nước mưa

Hệ thống chỉ tiêu tài nguyên nước là hệ thống thông số về đặc điểm, tiềm năng và mức độ ...

XÂY DỰNG PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH NHÓM CHỈ TIÊU KIỂM KÊ LƯỢNG NƯỚC DƯỚI ĐẤT

Trong nghiên cứu kiểm kê tài nguyên nước, việc xây dựng các phương pháp xác định nhóm chỉ tiêu liên ...

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_LienKet

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_AnPham_Phai

ẤN PHẨM NỔI BẬT

 Content Editor

 VienKHTNN.Core - VienKHTNN_BinhLuan

BÌNH LUẬN